Giảm Cân Tự Nhiên: bệnh thủy đậu

giamcan24h

Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh thủy đậu. Hiển thị tất cả bài đăng

Các biến chứng và cách điều trị bệnh thủy đậu hiệu quả

Bệnh thủy đậu trong dân gian còn được gọi là bệnh trái rạ hay bệnh phỏng dạ là một bệnh truyền nhiễm hay gặp trên người, do một chủng virus herpes là Varicella Zoster virus (VZV) gây ra. Căn bệnh này hay gặp nhất ở trẻ em và thường không quá nguy hiểm nhưng một số trường hợp có thể dẫn đến các biến chứng nặng nề. Thủy đậu có khả năng lây lan cao và dễ trở thành đại dịch.

Thời kì ủ bệnh thủy đậu: kể từ lúc phơi nhiễm với virus cho đến khi xuất hiện triệu chứng thủy đậu thường kéo dài từ 10–21 ngày, trung bình là 14 ngày.

Những yếu tố nguy cơ mắc bệnh thủy đậu

Một đặc điểm quan trọng của virus VZV là chúng có thể lây lan từ người này qua người khác ngay cả khi chưa xuất hiện bất kì triệu chứng nào. Ở một số bệnh nhân có cơ địa đặc biệt như người suy giảm miễn dịch (người mắc u lympho, bệnh bạch cầu hoặc điều trị corticoid kéo dài), virus VZV có thể dẫn tới tình trạng nhiễm trùng nặng, các nốt phỏng thường hoại tử và chảy máu. Virus VZV có thể khu trú gây tổn thương ở các cơ quan nội tạng như phổi, gan, thần kinh và gây đông máu trong lòng mạch.

Mọi người đều có nguy cơ mắc bệnh thủy đậu, tuy nhiên nguy cơ đó gia tăng nếu người đó chưa được tiêm vắc xin phòng bệnh và ở trong những trường hợp sau:

Cùng sống trong một môi trường với người bị thủy đậu

Tiếp xúc với người bị thủy đậu từ một giờ trở lên.

Có hệ thống miễn dịch bị tổn thương.



Khởi phát bệnh thủy đậu:

Cơ thể có sốt nhẹ 37 – 38 oC, đôi khi sốt cao đến 39 – 40 độ;

Người mệt mỏi, đau đầu, đau họng

Nổi các nốt phỏng: Ban đầu là các nốt nhỏ màu hồng, sau đó nổi gồ lên da và sau 24 giờ trở thành nốt màu hồng có phỏng nước trong. Các nốt phỏng thường rất ngứa, xuất hiện rải rác khắp cơ thể mà nhiều nhất là trên mặt, ngực, da đầu và chân tóc. Nếu như bệnh nhân không kiểm soát được mà hay gãi thì rất dễ làm vỡ các nốt này. Các nốt phỏng tồn tại khoảng 4 ngày, khoảng từ ngày thứ 10 trở đi bắt đầu bong vảy và thường không để lại sẹo.

Biến chứng của bệnh thủy đậu

Nhiễm khuẩn ngoài da là biến chứng hay gặp nhất của bệnh thủy đậu. Các nốt phỏng xuất hiện ngoài da thường rất ngứa khiến cho người bệnh hay gãi, nếu không cẩn thận sẽ bị vỡ, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập đặc biệt là liên cầu và tụ cầu. Trong một số trường hợp, biến chứng này có thể trở nên trầm trọng hơn. Bạn nên hiểu rõ bệnh thủy đậu kiêng gì để có phương pháp chăm sóc tốt nhất cho người bệnh và tránh các biến chứng do bệnh gây ra.

Ngoài ra, thủy đậu cũng có thể gây nên một số biến chứng khác nhưng ít gặp hơn, cụ thể bao gồm:

Viêm phổi do thủy đậu:

Viêm phổi có thể xuất hiện nếu virus VZV xâm nhập vào hệ hô hấp. Tỷ lệ bị biến chứng này ở bệnh nhân thủy đậu vào khoảng 20%, phổ biến nhất ở trẻ vị thành niên, người lớn và phụ nữ có thai.Người hút thuốc lá, người bị bệnh phổi hoặc người suy giảm miễn dịch cũng dễ bị tổn thương bởi biến chứng này.

Suy giảm thị giác:

Xảy ra khi virus VZV xâm nhập vào giác mạc, để lại các vết sẹo và gây viêm giác mạc, gây tổn thương đến mắt.

Bệnh thủy đậu khi mang thai có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm cho thai nhi. Nếu mắc bệnh trong 3 tháng đầu của thai kì sẽ có thể gây bệnh lý với phôi thai như mất chi, viêm tắc võng mạc, đục thủy tinh thể. Còn trong trường hợp mắc bệnh khoảng 5 ngày trước khi sinh, thì trẻ sinh ra sẽ bị thủy đậu bẩm sinh do bị nhiễm virus vào máu và thường dẫn đến tử vong.

Biến chứng thần kinh (viêm não):

Đây là biến chứng hay gặp ở trẻ nhỏ, xuất hiện khoảng 5 – 10 ngày sau khi các nốt phỏng xuất hiện. Ở trẻ em, viêm não do thủy đậu thường ở vùng tiểu não và được gọi là chứng mất điều hòa tiểu não cấp tính (acute cerebellarataxia). Ở người lớn, biến chứng này xuất hiện ở một vùng não lớn hơn và cũng nguy hiểm hơn. Viêm não thường gây ra triệu chứng như sốt đột ngột, nhức đầu, li bì, mẫn cảm với ánh sáng và buồn nôn, thậm chí gây co giật và liệt. Trong trường hợp này không thể tự điều trị tại nhà mà phải đưa bệnh nhân tới bệnh viện.

Hội chứng Reye:

Có thể xuất hiện nếu bệnh nhân thủy đậu nhỏ tuổi dùng aspirin. Do đó, không được chỉ định aspirin cho bệnh nhân thủy đậu dưới 20 tuổi.
Ngoài những biến chứng trên, bệnh nhân thủy đậu còn có thể bị một số hiện tượng khác như viêm cơ tim, viêm khớp, viêm cầu thận, viêm thận, xuất huyết nội tạng, ban xuất huyết giảm tiểu cầu…

Điều trị bệnh thủy đậu hiệu quả:

Đối với các nốt phỏng có thể cần sát trùng ngoài da bằng xanh methylen, kết hợp với các thuốc kháng histamin để giảm ngứa. Đối với căn nguyên gây bệnh là virus VZV nên dùng acyclovir nếu tiên lượng có thể xuất hiện biến chứng trong vòng 24 giờ đầu khi các nốt phỏng xuất hiện.

Trong trường hợp có biến chứng: tổn thương viêm da mủ do tụ cầu điều trị bằng oxacillin hoặc vancomycin, biến chứng viêm phổi điều trị bằng kháng sinh cephalosporin thế hệ ba (ceftazidim) hoặc nhóm quinolon (levefloxacin). Chú ý không dùng kháng sinh quinolon cho phụ nữ có thai và trẻ em dưới 12 tuổi.

Cách chữa bệnh thủy đậu hiệu quả với bài thuốc dân gian:

Theo Đông y, thủy đậu là bệnh nông, nhẹ, ở phần vệ, rất ít gặp ở phần huyết. Tùy theo thể nặng hay nhẹ, có thể áp dụng những bài thuốc đông y để chữa trị.

Với bệnh thủy đậu nhẹ:

Triệu chứng: những nốt thủy đậu mọc rải rác màu hồng nhạt, sốt nhẹ, có khi không sốt, ho ít. Nước mũi loãng trong, người bệnh ăn uống và tinh thần bình thường. Bệnh đang ở phần vệ khí.
Phép chữa: sơ phong thanh nhiệt.

Lá dâu 12 gr, cam thảo đất 8 gr, rễ sậy 10 gr, lá tre 16 gr, cúc hoa 8 gr, kim ngân hoa 10 gr, kinh giới 8 gr. Sắc uống. Khi thủy đậu mọc có thể dùng phương pháp trừ thấp giải độc sau: dùng bài thuốc gồm: cam thảo dây 12gr, lá tre 10 gr, sinh địa 12 gr, hoàng đằng 8 gr, rễ sậy 8 gr, kim ngân hoa 12 gr, vỏ đậu xanh 12 gr. Sắc uống.

Với bệnh thủy đậu nặng:

Triệu chứng: thủy đậu mọc dày, sắc tím, màu nước đục, xung quanh nốt thủy đậu màu đỏ sẫm, sốt cao, phiền khát, mặt đỏ, môi hồng, viêm niêm mạc miệng, có những nốt phỏng, rêu lưỡi vàng, chất lưỡi đỏ.

Phép chữa: thanh nhiệt giải độc ở khí phận, lương huyết ở doanh phận. Kim ngân hoa 12 gr, liên kiều 8 gr, bồ công anh 16 gr, sinh địa 12 gr, xích thược 8 gr, chi tử (sao) 8 gr. 

Phiền táo, thêm hoàng liên 8 gr. 

Táo bón, thêm đại hoàng 4 gr.

Khát nước, miệng khô, thêm thiên hoa phấn, sa sâm, mạch môn, mỗi vị 8-12 gr.

Các bài thuốc chữa bệnh thủy đậu trên sắc uống ngày 1 thang, chia uống 3 lần trong ngày, uống nóng sau khi ăn 30 phút.

Phòng ngừa bệnh thủy đậu

Để tránh bị lây nhiễm virus VZV và các triệu chứng bệnh thủy đậu cần hạn chế tối đa tiếp xúc với bệnh nhân. Đặc biệt đối với trường hợp trẻ em, virus thủy đậu có thể nhanh chóng lây lan trong phạm vi lớp học. Do đó cần cho trẻ mắc bệnh nghỉ học hoàn toàn cho đến khỏi bệnh. Đối với người lớn, khi bị thủy đậu cần hạn chế tiếp xúc với người khỏe mạnh cho đến khi tất cả các triệu chứng biến mất, thường là 10 ngày kể từ khi khởi phát bệnh.

Đối với một số trường hợp không thể tiêm vắc xin, vẫn có thể ngăn ngừa nguy cơ mắc thủy đậu bằng cách tiêm kháng thể globulin miễn dịch càng sớm sau khi tiếp xúc với nguồn virus VZV càng tốt. Người đã bị thủy đậu thì không cần tiêm vắc xin vì đã có kháng thể có tác dụng bảo vệ suốt đời.

Mặc dù là một bệnh truyền nhiễm rất dễ lây lan và có thể để lại những biến chứng nguy hiểm, song bệnh thủy đậu lại có thể phòng tránh hữu hiệu thông qua tiêm phòng vắc xin. Tất cả các trẻ em trên 12 tháng tuổi, người lớn chưa từng tiêm ngừa thuỷ đậu, cũng như những phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, chưa từng bị thuỷ đậu hoặc chưa được tiêm phòng lúc nhỏ, đều có thể tiêm vắc xin ngừa. Thời gian vaccin có hiệu lực là 3 tuần sau khi tiêm và thời gian miễn dịch (không mắc bệnh) kéo dài trung bình là 15 năm.
read more →

Các bài thuốc dân gian chữa bệnh thủy đậu

Thủy đậu còn gọi thủy hoa, dân gian hay gọi là bệnh trái rạ xảy ra nhiều trong khoảng từ tháng 2 đến tháng 4 hằng năm. Đây là loại bệnh truyền nhiễm thông thường, trẻ em hay mắc phải, thỉnh thoảng cũng gặp ở người lớn. Bệnh được chia ra làm hai loại là loại nhẹ và loại nặng. Mỗi loại có triệu chứng và cách chữa bệnh thủy đậu khác nhau. Sau đây là bài thuốc chữa cụ thể cho từng loại.

Bài thuốc dân gian chữa bệnh thuỷ đậu

1. Đối với thủy đậu loại nhẹ 

* Triệu chứng: Không sốt hoặc sốt nhẹ, chảy nước mũi, ho ít, ăn uống bình thường, các nốt đậu mọc rải rác màu hồng nhạt, ngứa nhiều.

* Phép chữa: Sơ phong thanh nhiệt.

* Bài thuốc: Lá dâu tằm tươi 30 g rửa sạch, cỏ mần chầu tươi 20 g rửa sạch thái ngắn, lá tre tươi 20 g, cam thảo đất tươi 20 g thái ngắn. Cho vào ấm sắc uống, hãm 1.000 ml nước còn 300 ml, mỗi lần uống 30-50 ml, chia uống trong ngày.


Nếu bệnh thủy đậu ở trẻ em không sốt nóng, mụn đậu mọc thưa ít, ăn ngủ, tiêu tiểu bình thường, có thể không cần uống thuốc, nên dùng nước đun sôi để nguội tắm rửa, tránh gió và điều dưỡng tốt.

2. Đối với thủy đậu loại nặng 

* Triệu chứng: Sốt cao, buồn phiền, khát, thủy đậu mọc dày, sắc tím tối, mặt đỏ, miệng môi khô hồng, niêm mạc miệng có những nốt phỏng.

* Phép chữa: Thanh nhiệt giải độc là chủ yếu.

* Bài thuốc: Vỏ đậu xanh hoặc đậu xanh cả vỏ 20-30 g, rau om tươi 20 g rửa sạch, quả dành dành 16 g, kim ngân hoa 16 g, rễ cỏ tranh 12 g. Bài thuốc này nên sắc 2 lần. Lần đầu cách sắc như bài thuốc trên, lần sau đổ 600 ml nước sắc còn 200 ml, dồn lại với nước thứ nhất, cô lại còn 300 ml chia 2 lần uống trong ngày. Trẻ em tùy theo tuổi có thể dùng 1/2 liều. Dùng liên tục cho đến khi khỏi hẳn.

Triệu chứng bệnh thủy đậu có thể chữa khỏi hoàn toàn mà không để lại di chứng nếu phát hiện kịp thời và chữa trị đúng cách. Đối với bệnh nhân mắc bệnh này thì cần phải được cách ly để điều trị tại các cơ sở y tế. Nhưng do không nhận thức đúng về bệnh thủy đậu, nên hiện nay phần lớn người mắc bệnh đều không đến điều trị tại các cơ sở y tế mà chữa tại nhà bằng phương pháp dân gian.
read more →

Bị thủy đậu khi mang thai cần làm gì?

Chính vì vậy các chị em phụ nữ nên tìm hiểu cách phòng tránh bệnh thủy đậu thế nào cho an toàn với trẻ em và người lớn và nếu có mắc bệnh thủy đậu khi mang thai thì cần làm gì và ảnh hưởng của nó ra sao với cả mẹ và em bé. Bệnh thủy đậu rất ít xảy ra với người lớn nhưng khi mang thai nếu mắc bệnh thủy đậu thường rất nguy hiểm với người lớn và ảnh hưởng rất lớn với trẻ em.

1 .Ảnh hưởng của bệnh thủy đậu khi mang thai?

Phụ nữ đã từng nhiễm bệnh thủy đậu trước khi mang thai hoặc đã được chủng ngừa bệnh thủy đậu thì được miễn dịch với bệnh này, trong cơ thể đã có kháng thể chống lại bệnh. Do đó, khi mang thai, những thai phụ đã có kháng thể chống lại bệnh thủy đậu không cần phải lo lắng về biến chứng của bệnh đối với bản thân họ cũng như thai nhi.

bệnh thủy đậu khi mang thai

Tỉ lệ tử vong nếu mắc bệnh thủy đậu ở người lớn đối với phụ nữ mang thai mắc bệnh thủy đậu cao nhất trong số những người lớn nhiễm bệnh này.

Thai phụ nhiễm bệnh thủy đậu có nguy cơ viêm phổi do virus varicella 10 – 20%, trong số người viêm phổi do virus này nguy cơ tử vong lên đến 40%.

Đối với những thai phụ bệnh thủy đậu nguyên phát khi mang thai, sự ảnh hưởng của bệnh trên thai nhi tùy vào từng giai đoạn tuổi thai:

- Trong 3 tháng đầu, đặc biệt tuần lễ thứ 8 đến 12 của thai kỳ, nguy cơ thai nhi bị Hội chứng thủy đậu bẩm sinh là 0.4%. Biểu hiện thường gặp nhất củahội chứng thủy đậu bẩm sinh là sẹo ở da. Những bất thường khác có thể xảy ra là tật đầu nhỏ, bệnh lý võng mạc, đục thủy tinh thể, nhẹ cân, chi ngắn, chậm phát triển tâm thần.

- Nếu người mẹ nhiễm bệnh trong vòng 5 ngày trước sinh và 2 ngày sau sinh, bé sơ sinh dễ bị bệnh thủy đậu lan tỏa do mẹ chưa có đủ thời gian tạo kháng thể truyền cho thai nhi trước sinh. Tỉ lệ tử vong bé sơ sinh lúc này lên đến 25 - 30% số trường hợp bị nhiễm.

- Trong 3 tháng giữa, đặc biệt tuần 13 – 20 của thai kỳ, nguy cơ thai nhi bị hội chứng thủy đậu bẩm sinh là 2%. Sau tuần lễ thứ 20 thai kỳ, hầu như không ảnh hưởng trên thai.

2. Khi thai phụ mắc bệnh thủy đậu khi mang thai cần làm gì?

bệnh thủy đậu khi mang thai

Bị thủy đậu khi mang thai bà bầu cần được nghỉ ngơi nhiều

Thai phụ cần được nghỉ ngơi, uống nhiều nước, ăn thức ăn lỏng dễ tiêu hóa, nếu sốt có thể dùng thuốc hạ sốt paracetamol. Giữ vệ sinh thân thể, tránh làm vỡ những bóng nước vì có nguy cơ bội nhiễm.

Vì thai phụ có nguy cơ cao do biến chứng của căn bệnh thường gặp này nên dùng varicella – zoster immune globulin (VZIG) đối với những thai phụ có phơi nhiễm với bệnh mà những thai phụ này chưa từng bị bệnh thủy đậu hoặc chủng ngừa .

Việc dùng VZIG không phòng ngừa được nhiễm trùng bào thai, hội chứng thủy đậu bẩm sinh cũng như bệnh thủy đậu sơ sinh

Như vậy, việc dùng VZIG cho thai phụ chỉ phòng ngừa biến chứng nặng ở mẹ chứ không giúp ích cho thai nhi hoặc trẻ sơ sinh. Để dự phòng biến chứng cho trẻ, nên dùng VZIG cho bé sơ sinh.

Đối với thai phụ nhiễm bệnh thủy đậu diễn tiến nặng có nguy cơ viêm phổi nên được tư vấn dùng Acyclovir đường tĩnh mạch để giảm nguy cơ cho cả mẹ và thai. Acyclovircó vai trò ức chế sự phát triển của virus nên ức chế sự phát triển của bệnh.

3.Cách phòng ngừa bệnh thủy đậu khi mang thai

- Nên chủng ngừa bệnh thủy đậu khi còn bé hoặc ít nhất 3 tháng trước khi mang thai.

- Giữ vệ sinh môi trường và vệ sinh thân thể tốt.

- Khi mang thai nên tránh tiếp xúc với người bệnh thủy đậu.

read more →

Cách phòng ngừa bệnh thủy đậu hiệu quả

Bệnh thủy đậu  là một bệnh rất dễ lây truyền và nhiều biến chứng và đặc biệt là nhiều nhất ở trẻ em vì sức đề kháng còn yếu kém, bệnh do một loại siêu vi mang tên Varicella Zoster Virus (VZV) gây nên, tháng cao điểm nhất bệnh thủy đậu là tháng 3 và 4.

1. Bệnh thủy đậu lây qua đường nào?

Bệnh lây nhiều nhất trong vòng 2 ngày đầu sau khi nổi ban, cũng có thể lây trước khi nổi 1 ngày. Khả năng lây truyền kéo dài trong 6 ngày.(ví dụ, khi một người bị nhiễm trái rạ hắt hơi nhảy mũi hoặc ho).

Bệnh thủy đậu rất dễ truyền nhiễm và lây lan qua sự đụng chạm đến ban ngứa từ người bị thuỷ đậu hoặc qua những giọt nước nhỏ trong không khí từ miệng  hay có thể lây qua dịch mũi, miệng bắn ra trong không khí khi bệnh nhân nói, khóc, ho, hoặc hắt hơi; và từ dịch của các nốt thủy đậu. 

Khoảng 90% những nguời nào chưa từng bị thuỷ đậu trong gia đình thì sẽ bị nếu tiếp xúc với một nguời thân bị nhiễm bệnh.

Bệnh cũng có thể lây lan qua sự tiếp xúc đến quần áo hoặc vải trải giường bị ô nhiễm bởi chất dịch từ ban ngứa hoặc từ miệng hay mũi của người bị bệnh. Những người nào có hệ miễn dịch bị suy yếu mà bị trái rạ thì có thể phải mất một thời gian lâu hơn để những mụn thuỷ đậu của họ đóng vảy.

Bệnh Thủy đậu lây lan qua đường nào

Triệu chứng bệnh thủy đậu là nhiễm trùng da và mô mềm, nhiễm độc tố vi khuẩn, viêm phổi hoặc nhiễm trùng máu (ít). Các nốt thủy đậu trên da khi bị bội nhiễm sẽ sưng to lên và gây ngứa, trẻ không chịu được, gãi làm trầy da và để lại những vết sẹo vĩnh viễn. Thủy đậu ít khi dẫn đến viêm não, nhưng điều này vẫn có thể xảy ra, gây tử vong hoặc để lại các di chứng thần kinh lâu dài. Mỗi năm, ở Bệnh viện Nhi Đồng 1 có 1-2 ca tử vong do thủy đậu.

Sau thời gian ủ bệnh (khoảng 14 ngày), người bệnh có các triệu chứng sốt cao, mệt mỏi, biếng ăn, nhức đầu; nổi từ 300 đến 500 nốt, kéo dài khoảng 10 ngày. Nốt mọc ở thân mình, sau đó lan lên mặt và tay chân. Những nốt này có thể để lại sẹo vĩnh viễn nếu bị nhiễm trùng.

Bệnh Thủy đậu lây lan qua đường nào

2. Cách phòng ngừa bệnh thủy đậu

Vaccine chống thuỷ đậu có hiệu quả cao và lâu dài, giúp cơthể tạo kháng thể chống lại virus thủy đậu, được áp dụng đối với các đối tượng sau:

- Trẻ em trên 13 tuổi và người lớn chưa từng bị thủy đậu lần nào thì nên tiêm 2 lần, nhắc lại cách nhau từ 4-8 tuần.

- Tất cả trẻ em từ 12-18 tháng tuổi được tiêm 1 lần.

- Trẻ em từ 19 tháng tuổi đến 13 tuổi chưa từng bị thuỷ đậu lần nào cũng tiêm 1 lần.

Cách phòng ngừa bệnh thủy đậu

Tiêm vacxin để phòng bệnh thủy đậu ở trẻ em

Hiệu quả bảo vệ của vaccine thủy đậu có tác dụng lâu bền.

Nếu đã được chủng ngừa vaccine thủy đậu thì đại đa số từ 80-90% có khả năng phòng bệnh tuyệt đối. Tuy nhiên, cũng còn khoảng 10% còn lại là có thể bị thủy đậu sau khi tiêm chủng, nhưng các trường hợp này cũng chỉ bị nhẹ, với rất ít nốt đậu, khoảng dưới 50 nốt, và thường là không bị biến chứng.

3. Khi mắc bệnh thủy đậu nên làm gì?

Khi mắc bệnh thủy đậu nên làm gì

- Uống thuốc giảm ngứa. Hạ sốt bằng paracetamol, không được cho trẻ uống aspirin. Chỉ sử dụng kháng sinh khi bác sĩ kê đơn.

- Trong trường hợp nặng thì phải nhập viện.

- Vệ sinh ngoài da, tắm rửa sạch sẽ, thoa xanh methylène, không sử dụng gốc rạ để tắm hoặc dùng các loại lá để đắp lên vì có thể gây bội nhiễm. Cắt móng tay cho trẻ để trẻ khỏi gãi hoặc làm xước da.

Để phòng lây lan căn bệnh thường gặp này, cần cách ly người bệnh ít nhất 1 tuần. Phụ nữ đang mang thai tuyệt đối tránh tiếp xúc với người đang mắc bệnh này.

read more →

Dấu hiệu nhận biết bệnh thủy đậu

Theo các bác sỹ chuyên khoa, bệnh thủy đậu là một bệnh rất dễ lây, dễ bùng phát thành dịch. Cũng giống như bệnh sởi và một số bệnh do virus khác, thủy đậu thường bùng phát vào mùa đông-xuân hàng năm, kéo dài cho tới hết mùa xuân. Đa số người mắc chưa được tiêm vaccine phòng thủy đậu.


Dấu hiệu nhận biết bệnh thủy đậu:

Ban đầu, người bệnh thường sốt cao. Sau 1 - 2 ngày bắt đầu có các biểu hiện điển hình của thủy đậu là phát ban, phỏng nước trên da. Trên cùng một vùng cùng có các ban mới mọc, đã vỡ, tạo bỏng nước xen lẫn nhau. Thời gian từ khi xuất hiện đến khi vỡ là khoảng 2 - 3 ngày. 

Nếu điều trị đúng chỉ định và vệ sinh sạch sẽ, không bị biến chứng thì bệnh thủy đậu sẽ khỏi sau 5 - 7 ngày. Có một tỷ lệ nhỏ phải nhập viện vì ban mọc quá nhiều hoặc biến chứng viêm da, viêm phổi, viêm não - màng não...

Bệnh thủy đậu tiến triển nhanh, đến ngày thứ 4 hoặc ngày thứ 6 thì nốt đậu đóng vẩy. Tuy nhiên, hiện nay phần lớn trẻ mắc thủy đậu nhập viện trong tình trạng viêm phổi nặng do bội nhiễm vi khuẩn liên cầu, tụ cầu. Nguyên nhân do trẻ gãi nhiều và không được chăm sóc vệ sinh chu đáo... các nốt phỏng bị bội nhiễm khiến trẻ viêm da nặng, biến chứng viêm cầu thận cấp tính hoặc nhiễm khuẩn máu do vi khuẩn tụ cầu.


Bệnh thủy đậu (hay theo cách gọi của dân gian là bênh trái dạ) do siêu vi Varicella zoster gây ra. Biểu hiện chính của bệnh là các tổn thương dạng bóng nước trên da và niêm mạc. Sau khi siêu vi xâm nhập cơ thể, phải qua thời gian khoảng 10-20 ngày (gọi là thời kỳ ủ bệnh) người mắc căn bệnh thường gặp này mới xuất hiện các triệu chứng của một người nhiễm siêu vi (sốt, đau đầu, uể oải, chán ăn...). Lúc này, trên da người bệnh có thể xuất hiện những hồng ban có đường kính vài milimet và sau 1-2 ngày mới xuất hiện nốt đậu. Đa số nốt đậu có đường kính dưới 5mm, tuy nhiên cũng có nốt đậu có đường kính tới 10mm. Nốt đậu nổi nhiều là dấu hiệu cảnh báo bệnh có thể diễn tiến nặng.

Mụn bóng nước lúc đầu chứa một chất dịch trong, khoảng 1 ngày sau trở nên đục như mủ rồi 2-3 ngày kế tiếp thì vỡ ra, các mụn sẽ đóng vẩy.

Xem thêm:

read more →